Wednesday, 02/12/2020 - 00:09|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường THCS Thụy Sơn

NGOẠI KHÓA VỀ NGHĨA TRANG 21/10

Ngày 30-4-1975, đất nước ta đã được hoàn toàn độc lập, non sông thu về một dải, kết thúc 21 năm chống đế quốc Mỹ tàn bạo và gần 100 năm thực dân pháp độc ác. Đây là sự thực mà bất cứ người dân Việt Nam nào cũng đều biết đến, có quyền tự hào và không thể không đau khổ khi nhắc đến sự mất mát vô cùng to lớn được của cả dân tộc đã hi sinh đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho chúng ta ngày hôm nay.

Xúc động, ngưỡng vọng, kính trọng và nhớ thương Cô giáo cùng 30 học sinh ngày ấy!

 NGOẠI KHÓA về nghĩa trang 21-10

 (Xã Thụy Dân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình)

Căm thù giặc Mỹ, nhân dân Việt Nam còn nhớ như in:

Miền Bắc đánh thắng chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của ĐQ Mỹ (1964 - 1968) 
                 Kính thưa các thầy cô giáo!

                 Các em học sinh yêu quý!

        Ngày 30-4-1975, đất nước ta đã được hoàn toàn độc lập, non sông thu về một dải, kết thúc 21 năm chống đế quốc Mỹ tàn bạo và gần 100 năm thực dân pháp độc ác. Đây là sự thực mà bất cứ người dân Việt Nam nào cũng đều biết đến, có quyền tự hào và không thể không đau khổ khi nhắc đến sự mất mát vô cùng to lớn được của cả dân tộc đã hi sinh đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho chúng ta ngày hôm nay. Để rồi hôm nay, sống trong thời hòa bình này, nhiều lúc ta ngậm ngùi chua xót, lại nghĩ và thương cha ông mình phải gánh chịu thảm họa không thể nào bù đắp do chiến tranh đã gây ra…

Các em yêu mến, thấy trò ta chỉ được biết đến qua nghe kể, qua các tư liệu, sách báo, phim ảnh về những cực hình mà dân tộc đã gồng mình hứng chịu trước tội ác dã man tàn bạo của ĐQM (chẳng hạn một vụ thảm sát sáng 16-3-1966 ở thôn Mĩ Lai, tỉnh Quảng Ngãi đã giết hại 504 người trong đó có nhiều trẻ em dưới 5 tháng tuổi đang đói, bò ray bầu sữa mẹ trên xác người mẹ đã chết), bọn ĐQ không trừ bất cứ một thù đoạn nào nhằm chiếm được VN, bằng cách đàn áp đẫm máu.

Các em có biết không?

 

 

          Sau thất bại trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, để cứu vãn chế độ Sài Gòn, đế quốc Mỹ chuyển hướng chiến lược chiến tranh, đẩy chiến tranh lên hình thức cao nhất - “Chiến tranh cục bộ” đưa quân đội Mỹ và chư hầu trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam. Đây có thể nói là sự “cực chẳng đã” và không còn sự lựa chọn nào khác của đế quốc Mỹ, bởi vì như theo lời của tướng Oét-mô-len: Nếu tình hình cứ tiếp tục phát triển như cũ thì chính quyền Việt Nam cộng hòa không thể tồn tại được trong vòng quá 6 tháng. Dựa vào ưu thế quân sự của một cường quốc, đế quốc Mỹ huênh hoang tuyên bố: “Đẩy lùi miền Bắc Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá”.

Thực hiện kế hoạch xâm lược Việt Nam từ 6/1965 đến cuối năm đó, đế quốc Mỹ đã huy động 18 vạn quân ồ ạt kéo vào miền Nam, đây là cố gắng quân sự cao nhất của đế quốc Mỹ ở miền Nam, là đợt huy động quân lớn nhất kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II. Cùng với việc đưa quân vào miền Nam, đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc. Để hợp thức hóa âm mưu trên ngày 5/8/1964 chúng dựng lên sự kiện “Vịnh Bắc bộ” lấy cớ ném bom miền Bắc, đến 2/1965 viện cớ trả đũa cho cuộc tấn công của ta ở Plâycu chúng tiếp tục leo thang đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra bằng không quân và hải quân. Chiến tranh phá hoại miền Bắc là một phần trong chiến tranh xâm lược của Mỹ, nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam, phá hoại hậu phương, hòng làm lung lay ý chí kháng chiến của dân tộc ta kết thúc chiến tranh theo điều kiện có lợi cho Mỹ.

Thực hiện chiến lược ném bom phá đánh phá miền Bắc, trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, Mỹ đã huy động hàng nghìn máy bay tối tân, thuộc 60 loại khác nhau, trong số đó có hơn 200 máy bay chiến lược B52; cộng  thêm F111 “Cánh cụp cánh xòe” (là những loại hiện đại nhất ở thời điểm đó) cùng nhiều loại vũ khí hiện đại khác. Tính trong 4 năm chiến tranh phá hoại lần thứ nhất máy bay Mỹ xuất kích 30.000 lần thực hiện 55.000 phi vụ, trong đó B52 xuất kích 2734 lần, trung bình mỗi ngày có 100 - 150 lần máy bay Mỹ xuất kích bắn phá miền Bắc, ngày cao nhất lên tới 250 lần (nếu các em có dịp đến Hà Tĩnh, mảnh đất từng bị bom đạn Mỹ cày đi xới lại không biết đến bao nhiêu lần- nơi có tiểu đội Nữ thanh niên xung phong 10 cô gái ở Ngã ba Đồng Lộc làm nhiệm vụ trinh sát mặt đường Trường Sơn tại một trọng điểm đánh phá của Mỹ đã anh dũng hi sinh trong một trận Mỹ ném bom).

Cùng với không quân một lực lượng hải quân gồm 19 - 39 tàu chiến thường xuyên có mặt ở ven biển vịnh Bắc bộ và Thái Bình Dương và các căn cứ hải quân ở Nam Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác dùng pháo cỡ lớn phối hợp với không quân bắn phá dọc bờ biển miền Bắc. Lực lượng không quân và hải quân Mỹ đã ném bom, bắn phá liên tục với cường độ ngày càng tăng. Trung bình mỗi ngày, miền Bắc phải hứng chịu khoảng 1.600 tấn bom đạn của Mỹ trút xuống. Tính trung bình số bom đế quốc Mỹ trút xuống miền Bắc là 6 tấn/1 km2, 45,5 kg/01 người dân; con số này cao gấp nhiều lần số bom đạn trong chiến tranh thế giới lần thứ 2 ở Đức là 5,4 tấn/01 km2, 27kg/01 người, ở  Nhật là 0,43 tấn/01 km2, 1,6kg/01 người.

Tội ác của đế quốc Mỹ còn được ghi lại khi mục tiêu tấn công không chỉ là các căn cứ quân sự mà còn bao gồm cả những mục tiêu dân sự: hầu hết các thành phố, thị xã trên miền Bắc, các nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ, công trình thủy lợi, khu dân cư, trường học, bệnh viện, nhà thờ, nhà trẻ, chùa chiền… đều bị bom Mỹ đánh phá nhiều lần. Trong đó có 391 trường học, 92 cơ sở y tế và bệnh viện, 149 nhà thờ, 79 chùa chiền, 25/30 thị xã, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế.

Nhân dân miền Bắc thấm nhuần lời kêu gọi và đường lối của Đảng đã vượt qua mọi khó khăn, thách thức, dấy lên một cao trào cách mạng rộng lớn chưa từng có trong lao động sản xuất; chung sức, chung lòng vừa chiến đấu vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội với tinh thần “tất cả cho tiền tuyến tất cả để chiến thắng” và “mỗi người làm việc bằng hai vì đồng bào miền Nam ruột thịt”, các phong trào “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Trong chiến đấu và sản xuất phong trào thi đua chống Mỹ, cứu nước dâng cao, thể hiện sáng ngời chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Các lực lượng vũ trang nhân dân nêu khẩu hiệu “Nhằm thẳng quân thù mà bắn”, “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Giai cấp công nhân nêu quyết tâm “Chắc tay súng, vững tay búa”, phấn đấu đạt “Ba điểm cao”. Nông dân tập thể nêu quyết tâm “Chắc tay súng, vững tay cày”, phấn đấu đạt “Ba mục tiêu”. Thanh niên có phong trào “Ba sẵn sàng”, phụ nữ có phong trào “Ba đảm đang”, giáo viên và học sinh có phong trào thi đua “Hai tốt”, thiếu niên nhi đồng có phong trào “Làm nghìn việc tốt”. Với khẩu hiệu: tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng giặc Mỹ xâm lược, nhân dân miền Bắc đã tích cực chuẩn bị vừa sản xuất vừa chiến đấu, ra sức học tập nỗ lực không ngừng để chi viện cho chiến trường miền Nam. Trong hơn bốn năm (từ ngày 5-8-1964 đến ngày 01-11- 1968), quân dân miền Bắc đã bắn rơi, phá huỷ 3243 máy bay, trong đó có 6 chiếc B52, 3 chiến F111 diệt và bắt sống hàng nghìn giặc lái; bắn cháy, bắn bị thương 143 tàu chiến các loại.

Thất bại trong chiến tranh phá hoại cùng với những thất bại ở chiến trường miền Nam, đặc biệt là sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân (1968), Mỹ buộc phải tuyên bố ném bom hạn chế miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra kể từ ngày 31-03-1968 và đến ngày 01-11-1968, Mỹ ngừng ném bom, bắn phá miền Bắc hoàn toàn và nhận lời đàm phán với ta ở Hội nghị Pari, chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ bị phá sản hoàn toàn.

Như vậy, cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ không ngăn chặn được sự chi viện to lớn của nhân dân miền Bắc đối với chiến trường miền Nam, không lay chuyển được quyết tâm chống Mỹ của dân tộc ta. Trái lại, thắng lợi của quân dân miền Bắc càng củng cố niềm tin thắng giặc Mỹ, khích lệ nhân dân miền Nam thi đua giết giặc lập công. Chính đế quốc Mỹ phải thừa nhận: “Việc ném bom miền Bắc Việt Nam chẳng những không làm cho xương sống của Hà Nội mềm đi mà còn làm cho nó cứng thêm”(2). Về phía ta nói về vai trò của miền Bắc đối với sự nghiệp chống Mỹ cứu nước Đại hội IV khẳng định: “Đó là thắng lợi của chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, thắng lợi của đồng bào miền Bắc vừa xây dựng, vừa chiến đấu bảo vệ căn cứ địa chung của cả nước, đồng thời động viên ngày càng nhiều sức người, sức của để đánh Mỹ, cứu nước ở miền Nam, một lòng một dạ vì miền Nam ruột thịt”(3).

Đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ nhân dân miền Bắc đã góp phần cùng nhân dân miền Nam đập tan chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, giáng một đòn mạnh mẽ vào ý chí xâm lược của kẻ thù, tạo tiền đề quan trọng thay đổi cục diện trên chiến trường tiến tới giành thắng lợi từng bước tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn giải phóng miền Nam thống nhất đất nước./.

          Đất nước thực sự đã nở hoa độc lập, kết trái tự do, cuộc sống của nhân dân Việt nam đang ngày càng cỉa thiện, tiến những bước vững chắc khẳng định mình trên trường quốc tế, song những ngày tháng 10 này, mỗi lần nhắc tới Thụy Dân, ta thật ngậm ngùi nhớ thương tới co giáo Bùi Thị Thanh Xuân và ba mươi học sinh lớp bảy đã bị Mỹ giết hại vào sáng ngày 21-10-1967. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi này, các thầy cô giúp các em nhớ về những nét chính về sự kiện đau thương này các em hãy lắng nghe và có những cảm nhận, suy nghĩ và xác định hành động thiết thực cho mình cho tổ quốc thân yêu!

 

NGHĨA TRANG 21.10 – LỚP HỌC VĨNH HẰNG

 

      Cũng như các xã trong tỉnh Thái Bình, Thụy Dân hôm nay mang diện mạo của một xã nông thôn mới, nhưng vẫn giữ được nét đẹp cổ truyền, tuy không hẳn là cây đa giếng nước sân đình, nhưng bên cạnh những khu công sở khang trang, những cánh đồng mẫu lớn, những làng nghề phát triển ta vẫn bắt gặp những ao hồ, vườn tược đậm chất thôn quê, thấp thoáng những hàng cau thẳng tắp trong nắng chiều nghiêng.

    Chiến tranh đã qua đi, nỗi đau còn để lại,  Thụy Dân cũng có nghĩa trang liệt sĩ như bao làng quê khác. Nhưng Thụy Dân còn được biết đến với nghĩa trang 21, nghĩa trang độc nhất vô nhị. Một dấu tích không quên, là minh chứng cho một thời kì khốc liệt của chiến tranh. Đây là nơi yên nghỉ vĩnh hằng  của cô giáo liệt sỹ Bùi Thị Thanh Xuân và 30 em học sinh đã ra đi mà mãi không về!

         Thụy Dân  được thành lập từ năm 1955 gồm có 3 thôn là: Vọng Lỗ, An Dân và An Tiêm.

            Quả thật, đến với Thụy Dân, ai cũng nhận thấy: từ cảnh đến người đều đẹp. Đó là một vẻ đẹp hài hòa, mà bình dị của mảnh đất anh hùng, mảnh đất giàu truyền thống cách mạng. Với bao thế hệ  học sinh ưu tú, xuất sắc đẫ được nuôi dưỡng từ mái trường mến yêu này–mái trường có một cô giáo trẻ và 30 học sinh đã ra đi  không bao giờ trở lại!

            Trường cấp 2 Thụy Dân  được thành lập vào tháng 8 năm 1966. Mái trường nằm ở rìa làng thôn An Tiêm. Nơi đây rất đỗi yên bình, xung quanh không hề có mục tiêu quân sự, giao thông hay trung tâm kinh tế đặc biệt nào, cũng chưa từng bị đánh bom nhưng vẫn có giao thông hào và các hố cá nhân, hầm trú  ẩn để phòng bị. Dưới gốc cây xanh, cạnh các mép hầm, học sinh vẫn cần mẫn, vẫn miệt mài trên trang sách học bài.

   Ngày mới thành lập, trường quá hoang sơ. Toàn trường mới chỉ có 4 lớp học. Trong đó có 1 lớp 7, 1 lớp 6 và 2 lớp 5. Học sinh thì ít, số lớp không nhiều. Các em  ngồi học  dưới  mái tranh tre lụp sụp, được xây dựng từ thời  trước chiến tranh chống Mỹ. Cơ sở vật chất vô cùng thiếu thốn, tất cả vẫn còn bề bộn, ngổn ngang.

  Ngày đó thầy Vũ Đăng Vưu là hiệu trưởng, thầy Lê Mạnh Hạt quyền hiệu phó cùng với 7 thầy, cô giáo.  Mỗi thầy cô đến từ nhiều miền quê khác nhau, nhưng các mọi người đều coi nhau như anh em ruột thịt trong mái ấm gia đình.

  Tuy cuộc sống của thầy và trò còn rất nhiều khó khăn, nhưng tất cả đều quyết tâm thực  hiện tốt  phong trào thi đua: dạy tốt và học tốt. Mà người dẫn đầu là cô giáo trẻ Bùi thị Thanh Xuân.

            Cô giáo Bùi Thị Thanh Xuân sinh ngày 4/10/1942, ở thôn Diêm Điền xã Thụy Hà, huyện Thụy Anh tỉnh Thái Bình nay là khu 2 thị trấn Diêm Điền huyện Thái Thụy Tỉnh Thái Bình. Cô mồ côi cha từ nhỏ, mẹ lại bị tật nguyền chỉ có chị gái - chị Bùi Thị Giữa. Người  chị dịu hiền tần tảo sớm hôm kiếm tiền nuôi em ăn học. Cùng với bản tính thông minh và ham học, cô đã tốt nghiệp trường sư phạm Thái Bình. Sau khi tốt nghiệp, cô về công tác tại trường cấp 2 Thụy Phong, khi trường cấp 2 Thụy Dân được thành lập cô được PGD điều động về giảng dạy tại trường.

   Cô giáo  Bùi Thị Thanh Xuân bước vào đời với bao ước mơ, hoài bão  được ấp ủ trong lòng và luôn  tự nhắc mình bằng những dòng nhật kí. Chả thế mà trong cuốn sổ tay- kỷ vật bị thủng lỗ chỗ được lưu giữ tại Trường THCS Thụy Dân hôm nay, nhiều thế hệ đã được đọc những dòng suy nghĩ, những tâm sự của cô với nghề dạy học: 

“... Để sánh vai với người chiến sĩ ở trận tuyến giết giặc cứu nước thì ở hậu phương, ở mái trường thân yêu này, đêm - ngày mình sẽ miệt mài bên trang giáo án, quyết tâm đóng góp công sức của mình làm cho sự nghiệp trồng người ngày càng thêm thay da, đổi thịt...”.

            Bước vào cuộc sống gia đình, cô giáo Xuân còn là một người vợ tần tảo, thủy chung sắt son và tha thiết với người bạn đời.

Chồng cô - thầy Trương Vũ Sương, nguyên giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, cũng thật xứng đáng với cô, một người thầy giáo luôn tâm huyết với nghề, luôn tạo mọi  điều kiện, động viên để cô yên tâm công tác.

 Còn con trai cô-Trương Vũ Anh con trai duy nhất của cô khi  còn thơ dại, bé Anh đã phải sống xa mẹ, xa cha. Ở với bà nội nhưng nó ngoan lắm!  Tuy  nhỏ song Bé Anh thật  sự là 1 đứa con yêu! Nay, Anh là giám đốc xí nghiệp  lắp máy cơ khí điện thủy lợi bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn.

Với cô, hạnh phúc vẻ vang nhất là được  đóng  góp nhiều công sức cho sự nghiệp trồng người. Nhất là khi đất nước đang còn khói lửa của chiên tranh,  cô lại càng khát khao cống hiến thật nhiều  cho sự nghiệp vĩ đại này. Bởi thế  nên cô giáo Thanh Xuân đã vượt  lên mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ của mình trên trận tuyến giáo dục. Có như vậy, gia đình mới hạnh phúc. Thế nên, chồng cô cho biết: Khi dạy ở Thụy Dân, xa chồng, phải gửi con thơ về Nam Hà, nhờ bà nội nuôi giúp nhưng cô vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Lần giở những kỷ vật của người vợ hiền yêu dấu, thầy Sương cho xúc động lần dở cho mọi người xem lá thư cuối cùng của cô viết cho chồng nhưng chưa kịp gửi.

Trước linh hồn Cô giáo và 30 Anh chị HS lớp 7 ngày ấy,  xin được trích đọc 1 lá thư của Cô để chúng ta thêm hiểu hơn về Cô giáo:

 “Anh yêu quý của em!

Rét mới, đêm không ngủ được. Em trở dậy biên thư cho anh đây. (...). Hôm qua, chủ nhật, anh có về thăm con không? Xa xôi, em đã hình dung được nỗi vất vả của anh: trời rét, đường lầy lội. Không hiểu sao mấy đêm nay, em thao thức không ngủ được. Nghe thấy gà gáy nửa đêm mà em vẫn không chợp được mắt. Em chỉ hình dung thấy con trước mặt. Em nhớ và thương nó quá. Chưa đầy ba tuổi mà đã phải xa bố, xa mẹ, sống trong tình thương của ông bà... (...). Mấy hôm nay, nghe tin máy bay quần Nam Hà nhiều, em càng nhớ điên lên; chẳng đứng ngồi đâu yên. Hôm nay 17, có thể 15 hoặc 20 hôm nữa sẽ được nghỉ mùa. Em sẽ về thăm con... Kể ra thì rất buồn rất nhớ nhưng vì thời chiến cũng phải chịu vậy. Cách đây sáu hôm, nó đã đánh Diêm Điền nhưng không chết ai. Chỗ em vẫn yên ổn, thỉnh thoảng nó bay qua nhưng không ở trên đầu...”.

 

           Nhớ con da diết cõi lòng nhưng cô đâu có thể quên được  nhiệm vụ  cao cả của mình mà Đảng và nhân dân đã giao phó. Nào ngờ! lá thư viết xong nhưng  chưa kịp gửi thì một sự kiện xảy ra. 

Ta có ngờ đâu, trường cấp 2 thụy dân  lại bị Giôn Sơn chọn làm mục tiêu 296/391 mục tiêu hủy hoại trường học của không lực Hoa kì. 10h30’ ngày 21/10/1966 không khí rất yên tĩnh, xã viên hợp tác xã đã xong buổi làm, các lớp học khác đã tan, lớp 7 cũng sắp hết tiết học cuối cùng. Trong lúc cô say sưa cùng với đàn học sinh thân yêu trong tiết học tiếng Việt- Cô nhận lời dạy đổi giờ cho một thầy giáo đi công tác đột xuất cấp trên giao. Cô dạy bài Thà đui mà giữ đạo nhà của nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu. Cô đang giảng đến đoạn “...Đó là tiếng nói trong sáng, tâm hồn khảng khái của nhà thơ, đồng thời cũng là tiếng nói và tâm hồn dân tộc...” bằng chất giọng truyền cảm, cả lớp có 52 HS, đều chăm chú lắng nghe.

          Đúng lúc ấy có tiếng máy bay Mỹ gầm rú trên không, đồng thời, phía trong làng vang lên những tiếng bom nổ rất to, đất đá bay tứ tung, khói cuộn mù mịt trắng trời.

          Trận bom kinh hoàng với bốn quả bom cỡ lớn đã trút xuống ngay cạnh hầm trú ẩn của nhà trường. 30 HS tuổi từ 13-16, trong đó có toàn bộ 12 HS nữ đã bị vùi chết bởi sức ép của bom Mỹ trong các hầm, hào giao thông. Em Lê Xuân Thạo – lớp trưởng – học sinh giỏi văn toàn tỉnh là một trong những số đó đã bị hi sinh.

   Cô Bùi Thị Thanh Xuân cũng bị bom vùi lấp khi mới vừa tròn 24 tuổi, độ tuổi đẹp nhất đời người, để lại một con thơ chưa đầy ba tuổi và đang mang thai đứa con thứ hai trong bụng. Khi được tìm thấy, cô Xuân vẫn còn ôm chặt hai HS trong vòng tay thân yêu của mình.

           Thế là chỉ trong giây lát, ngôi trường đã tan vào mây khói, hủy diệt bao ước vọng tươi đẹp của cô giáo và các học trò mà cô hết mực yêu thương như con...

          Đây là một nỗi đau quá lớn không gì có thể bù đắp được sự ra đi vĩnh viễn  của cô giáo trẻ  cùng với 30 em học sinh  khi tuổi còn hồn nhiên, thơ ngây và trong trắng.  Có lẽ, tất cả mọi người biết đết sự kiện này sẽ không thôi ám ảnh, sẽ không thể nào quên cái ngày kinh hoàng ấy, ngày cô giáo mến yêu và các bạn học của mình vĩnh viễn nằm xuống khi bài học và ước mơ vẫn còn đang dang dở.

          Khi  bước chân vào nghề, cô  đâu có nghĩ đến mình, mà luôn sẵn sàng hi sinh, che chở cho các em. Thực tế cho thấy, ngay cả giây phút cuối đời, cô giáo trẻ đầy trách nhiệm ấy  đã ôm trọn học sinh vào lòng mình, hứng chịu bom đạn, gạch, đất ập lên người mong cứu được các em thơ.

           Sự kiện đau thương  này đã gây chấn động dư luận trong nước và trên thế giới.  Ngay khi sự việc xảy ra, Bộ ngoai giao đã lên án giặc Mỹ ném bom xuống trường cấp 2 Thụy Dân. Bộ giáo dục, hội phụ nữ đã ra tuyên bố tố cáo tội ác của giặc Mỹ. Các báo nhân dân, Quân đội nhân dân, phụ nữ, văn nghệ, và hàng loạt các báo đồng loạt viết bài tố cáo tội ác của đế quốc mỹ và kêu gọi trả thù cho cô trò trường cấp 2 Thụy Dân. 

   Cả nước hờn căm tội ác giã man của đế quốc Mĩ.  Chúng đã cướp đi sự sống  của cô giáo trẻ và những em thơ vô tội. Nỗi căm giận xé ruột.  

                 Quân giết người lẻn đến giữa trưa

                  Trong giây lát, Thụy Dân trùm khói lửa

              Lửa cháy trụi trường, lửa thiêu tuổi trẻ !

                    Lửa đạn bom xóa tuổi học trò

      Ba mươi em nhỏ, ngây thơ, cùng cô giáo trẻ , dịu hiền

                                                đã ra đi vĩnh viễn! 

Ba ngày sau sự kiện Thụy Dân, ngày 24/10/1966, nhà thơ Huy Cận đã viết bài thơ :

                      Hãy trả thù cho các cháu Thụy Dân, trong đó có đoạn: 

“Ba mươi em học sinh lớp bảy

Đang ngồi nghe cô giáo giảng văn

Cô giáo bảo: các em ngồi lại

Ta học thêm tiếng đẹp Việt Nam

Lúa ngoài ruộng hạt vừa đóng sữa

Trong trường vui những tuổi mười lăm

Đầu các em như từng cụm lúa

Xúm bên cô, kén đẹp quanh tằm

Thế cũng đủ điên đầu giặc Mỹ

Những trẻ em yêu tiếng quê hương

Những cô giáo nuôi hồn trẻ nhỏ

Bằng sữa thơm mát của văn chương..

Mắt cô giáo sáng ngời tiếng Việt

Mắt em bé ngồi nghe tha thiết

Tiếng cha ông từ thuở trao về

Bom nó thả đón đường bốn phía

Lũ tinh vi nghề nghiệp giết người

Thằng Mỹ sợ, con quỷ già hốt hoảng

Sợ lúa làm đòng, sợ trẻ học sinh,

Sợ cô giáo, sợ thơ văn, sợ nắng,

Sợ hạt mầm, sợ sự sống tươi xanh...”.

          Cô ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ! Một nỗi đau quá lớn! Một vết thương lòng vẫn mãi hằn sâu trong gia đình, người thân, đặc biệt là là đứa con thơ và người chồng mà cô luôn yêu thương tha thiết!

Thầy Sương rưng rưng xúc động khi mọi người hỏi chuyện về cô:

“Hạnh phúc của chúng tôi trọn vẹn chưa được bốn năm. Bốn năm ấy mỗi người một nơi, đâu có được ở bên cạnh nhau để giúp nhau chuyên môn nghiệp vụ, để cùng nhau gánh vác công việc gia đình trong những tháng năm gian khổ ấy. Bây giờ hồi tưởng lại, tôi càng thấy xót xa đau đớn, càng thấy thương Xuân vô ngần...”.

            Cô giáo và 30 anh chị học sinh đã ra đi nhưng họ mãi mãi sống trong lòng mỗi thầy giáo, cô giáo, mỗi học trò và  trong mỗi chúng ta.

            Chính vì thế ngày 20 / 6 / 1969 cô đã được nhà nước phong tặng danh hiệu: Cô giáo, liệt sỹ Bùi Thị Thanh Xuân.

          Thi hài của cô và các anh chị được chính quyền xã Thụy Dân cùng bà con dân làng an táng  tại nghĩa trang đồng Nương –nghĩa trang nhân dân thôn An Tiêm 3- xã Thụy Dân.

          Từ năm1970, thi hài cô giáo và các anh chị học sinh đã được quy tập về yên nghỉ tại khuôn viên trường cũ.

          Các em ạ!

Thể theo nguyện vọng của cán bộ giáo viên và học sinh toàn ngành Thái Thụy chúng ta, được sự chỉ đạo của đồng chí Trần Cẩm Tú – UVTW Đảng – Bí thư tỉnh ủy Thái bình. Phương án xây dựng khu tưởng niệm 21-10 đã được thông qua, dự kiến khởi công xây dựng vào quý I năm 2015 và khánh thành vào quý IV năm 2015

          Toàn bộ khu di tích rộng 1,5 ha bao gồm các hạng mục nhà tiếp khách, nhà trưng bày, sân hành lễ, lầu chuông và khu đài tưởng niệm với tạo hình 31 vây đuốc vút lên trời xanh từ lòng 4 hố bom.

Ngày kia là ngày 21-10- 2020, ngày giỗ của cô giáo và ba mươi học sinh lớp 7 của Thụy Dân năm 1967, toàn thể các thầy cô và hơn 80 em HS tiêu biểu của trường THCS thụy Sơn về đây dâng nén tâm nhang tưởng nhớ và biết ơn tới Cô cùng 30 Anh chị HS hi sinh ngày ấy.

 

          Chiến tranh đã lùi xa nhưng trong lòng các thế hệ giáo viên và học sinh của trường THCS Thụy Dân, cô giáo liệt sĩ Bùi Thị Thanh Xuân mãi là tấm gương trong, một bài thơ đẹp.

Quá khứ đau thương nhưng rất đỗi anh hùng, thấy trò ta có quyền được tự hào, hãnh diện những người đã cống hiến như Cô. Trong giờ học hôm nay, thầy muốn các em hiểu về Nghiã trang trường học 21-10 để các em ngẫm suy và tiếp tục quyết tâm gắng sức luyện rèn.

Thầy giáo mong các em biết được một phần sự thực lịch sử của quê hương mình, các em hãy cố gắng phấn đấu, rèn luyện và học tập thật tốt để góp phần xây dựng Việt Nam đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như lời tâm nguyện của Bác Hồ muôn vàn kình yêu!

Giờ học kết thúc, kính chúc sức khỏe các thầy cô và các em.

Noi gương cô giáo và 30 Anh chị học sinh lớp 7 ngày này của 54 năm về trước, tất cả chúng ta hãy thực hiện tốt nhiệm vụ của mình!

Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 1
Hôm qua : 73
Tháng 12 : 74
Năm 2020 : 9.663